Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

ĐÊM CỦA QUỶ


Đêm cứ đêm như chưa hề sáng
Cho dù cơn ác mộng đã tàn
Tìm lửa trong diêm sủng nước mắt
Hong tình đời bằng sự dối gian

Phường ác nhân mặc áo thánh thiện
Kẻ vô lương lại được phong thần
Gắn cái tầm ruồng vào bất biến
Dạy đàn cừu cung chúc thánh ân

Biến xã hội thành một tu viện
Gieo điều xàm tấu xuống vô biên
Tiêu diệt cái tư duy phản biện
Để tự do không chỗ than phiền

Sự phản kháng mặt đầy dúm dó
Bởi người chỉ còn biết đói no
Và từ đó như lừa được Chúa
Mặc sa tăng thong thả bày trò
*SAUMIETVUON*

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

PHẾ LIỆU HD-981

Sách trời đất Việt đã nghìn thu
Tàu khựa có tròng sao lại mù
Đếch biết sỉ liêm gây quấy quá
Không thông nhân nghĩa tạo bù lu
Sô vanh bủn xỉn cậy tàu lớn
Bành trướng tham tàn ỷ súng to
Phế liệu Hắc Đê chín tám một
Kì này một trận lủ bây mò.
*
SAUMIETVUON*

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

LẦN ĐẦU ĐỐI MẶT BỘ ĐỘI BẮC VIỆT

Đã 39 mùa Xuân trôi qua nhưng mỗi năm cứ đến ngày này thì bom đạn lại đì đùng trên phương tiện truyền thông gợi nhớ đến cảnh tang tóc đau thương năm xưa, muốn quên đi cũng không được! Tôi đặt bút ghi lại một kỉ niệm còn lưu được trong kí ức đã xảy ra vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Khoảng đầu tháng 4/75 thì các đồn bót nơi những vùng xa trung tâm thị xã đều bị đánh tróc. Tình thần chiến đấu của quân đội cộng hoà xuống gần bằng 0 nhất là các đợn vị địa phương quân! Co cụm trong căn cứ họ chỉ chờ tiếng pháo tấn công của đối phương thì bỏ đồn mà chạy. Chỉ còn một hướng duy nhất là chạy về phía trung tâm tỉnh lỵ nơi mà chính quyền Sài Gòn còn kiểm soát, chính điều này đã bị bộ đội Bắc Việt biết hướng truy kích nên họ bỏ xác rất nhiều trên đường rút, một số bị bắt sống, sau này tôi nghe rất nhiều thãm cảnh do dân làng kể lại:
Có những thanh niên vừa bị bắt quân dịch còn rất trẻ chưa quen trận mạc khi tháo chạy vì quá sợ hãi nên lánh vào nhà dân không ngờ lọt vào ổ phục kích nên bị bắn hạ ngã xuống thềm khi im tiếng súng chủ nhà ra thì thấy người lính ấy miệng còn thều thào như muốn nói điều gì đó!
Một người lính mang máy truyền tin thấy đồng đội bỏ chạy vội la lớn:
-Đ/m sao tụi bây không bắn mà bỏ chạy!
Người này sau đó bị đối phương bắt sống và bị xử tử tại trận vì câu nói trên!...
Sau lần công đồn ấy thì mấy đơn vị bộ đội đóng quân lại trong làng, lúc ấy gia đình tôi tản cư ngụ tại chùa Cao Đài gần chợ, khi đi học về ghé lại đây cơm nước xong tôi liền lén gia đình về làng để xem các anh bộ đội như  thế nào bởi trước đó nghe bà tôi về thăm nhà ra  kể loáng thoáng nên rất tò mò. Khi đi tôi nghiêm chỉnh mặc nguyên bộ đồng phục học sinh áo ngắn tay trắng quần Tây politte xanh (áo vô thùng), giày bata trắng cùng cặp sách nhưng không quên đội thêm chiếc nón lá của bà cô để phi cơ không bắn lầm.
Đặt chân tới bìa làng tôi đã nghe những giọng nói trọ trẹ miền ngoài, vừa bước vào sân nhà, từ bên trong khoảng 3-4 anh chiến binh chạy ra mặt tươi cười một anh đưa tay gở chiếc nón trên đầu tôi ra rồi các anh cùng ồ lên:
-Ôi! Thằng bé đẹp quá nhỉ!
Thoạt đầu tôi rất sợ nhưng thấy các anh vui vẻ và gần gũi, hơn nữa tôi rất khoái chất giọng lạ mà lần đầu được nghe nên dạn dĩ dần, quan sát kỹ thì thấy anh nào anh nấy tuy nhỏ người nhưng đều trẻ trung trắng trẻo và mập mập chứ không phải “3 ông treo một cành đu đủ không oằn”*, quân phục họ mặc không chính qui phần nhiều được may bằng vải ny long dầu màu đen rất mỏng và nón vải mềm hoặc nón cối rất khác với các anh lính cộng hoà to lớn đen đúa mặt mài bặm trợn cộc cằn trong bô quân phục màu xanh lá và nón sắt nặng nề!
Khi vào trong tôi ngạc nhiên thấy nhà cửa các anh quét dọn thật sạch sẽ, quân cụ ngăn nắp và củi lửa bếp núc các anh chặt rửa sắp xếp đâu ra đó. Chính những điều trên mà sau này tôi hiểu rằng chính quyền Sài Gòn chẳng những thua về các mặt chính trị, quân sự mà thua luôn cả mặt trận dân vận nên sự thất bại là tất yếu.
Ở chơi với các anh tới chiều thì tôi phải theo bà nội và 2 cô ra lại chùa, từ đó ngày nào yên tôi cũng về lại để được gặp các anh và phụ bà cùng các cô lặt rau mang ra chợ bán, những lúc đó các anh đều phụ giúp, lúc nói chuyện cùng  thì hầu hết các anh (Khoảng gần mười người chỉ riêng tại nhà tôi) cứ rủ tôi đi theo, họ nói rằng:
-Em trai gần 15 tuổi rồi, hãy theo các anh đi chứ không mai mốt em bị chúng bắt lính thì ra chiến trường anh em mình lại giết nhau sao!
 Trong tốp các anh có một người hay cười nhưng ít nói giọng anh rất dể nghe khác với chất giọng nặng nề của các anh kia. Anh dắt tay tôi ra sân và bảo nhỏ:
-Em trai cứ ráng học hành cho giỏi đừng nghe ai và đừng nghĩ chi khác vì em là trẻ con.
Anh xin nhận tôi làm em nuôi và hứa khi tàn chinh chiến sẽ dẩn về quê anh chơi. Một bữa nọ đang tạm yên như mọi khi chợt tôi thấy các anh rất khẩn trương rồi rút quân đi rất vội sau những lời tạm biệt, khoảng 1 giờ sau khi các anh đi hết thì một đợn vị quân đội Sài Gòn tiến vào làng đó là sư đoàn 7 (Mà lần trước tôi có kể trong bài viết  ĐÔI MẮT BUỒN CHIẾN BINH). Và 2 lực lượng này đã đánh nhau vài ngày sau.
 Anh đã tử trận trong trận đánh cuối cùng đó! Tết 1976 đồng đội của anh có ghé lại nhà thăm thì tôi mới biết theo lời kể. Trong trận chiến ấy anh bị thương rất nặng một chân đứt lìa còn một chân nát bấy! Nhưng anh còn rất tỉnh táo nói với người y tá cứu thương rằng:"Mầy hãy dùng hết khả năng của mầy để cứu sống tao nhé, cho dù tao không còn đôi chân tao vẫn phải đi về ngoài ấy, tao còn bố mẹ và một đứa em gái nhỏ đang chờ...!!". Nghe thế tôi khóc ngất!
Họ được sinh ra cùng một mẹ Âu Cơ, cùng một tiếng nói Việt Nam, cùng một nền văn hoá nhưng họ lại giết nhau chỉ gì họ khác cái gọi là “Lý tưởng”! Hôm nay tôi viết bài này để nhớ về những người của cả 2 bên chiến tuyến đã ngã xuống trong cuộc tương tàn ấy,  nhớ đến những người trai phương Bắc năm xưa đã trót mang trên vai lời thề của thế hệ “SINH BẮC TỬ NAM”.

*“3 ông treo một cành đu đủ không oằn” : Đây là câu tôi biết được khi nhà báo Nguyễn Chu Nhạc ghé thăm trong lúc lai rai anh cho rằng hồi đó trong này dân cùng học sinh chúng tôi bị chính quyền Sài Gòn tuyên truyền như thế nhưng thật ra là tôi không có nghe bao giờ, vì nền giáo dục của miền Nam lúc ấy rất khai phóng và phi chính trị, nói như thế chỉ có điên mới tin. Hôm rồi có dịp gặp lại vài cụ cao tuổi tôi có hỏi về điều này và được họ trả lời rằng “Câu này là có, được xuất phát từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm do một biếm hoạ của một tờ báo thân đảng Cần Lao của ông ta để minh hoạ cho kết quả thành công của chính sách ấp chiến lược”.
*SAUMIETVUON*

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

TỈNH RƯỢU LÚC TÀN CANH


“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh”
Ngoài hiên gió lạnh trở mình lao xao
Sầu tu dụng tửu tự sầu
Giật mình tóc đã bạc màu xanh xưa
Cái chiều vừa mới hôm qua
Mà sao nở để thành ra vô tình
Bâng khuâng ta nói với mình
Tuổi xuân ai để rập rình gió bay!
*SAUMIETVUON*

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

TÂN DIÊN HỒNG


Truyền lai hậu thế dải sơn giang 

Khí tiết cha ông sáng sử vàng

Đại Hán, Hung Nô đều khiếp đảm

Chiêm Thành Chân Lạp phải kinh hoàng

Lửa thiêng bất khuất cha ông thắp

Nhiệt huyết anh hùng con cháu mang

 Hào khí Diên Hồng nay còn nóng

Đập tan cuồng vọng lũ tham tàn
*SAUMIETVUON*

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

MẸ ANH HÙNG


Tát nước đồng sâu mẹ tưới rau
Để cha đi thoả chí anh hào
Chung chiêng cánh vạc nuôi con lớn
Khổ nhọc thân cò vóc hư hao
Chiến đấu trường kì con tiếp bước
Thanh bình giấc muộn mẹ trông sao
Người đi chinh chiến không về lại
Mẹ vẫn một mình với gánh rau!
*SAUMIETVUON*

ANH VÀ TÔI

 **Bài thơ gửi tặng anh NGUYỄN VINH DŨNG

Anh về phương Bắc có đông phong
Tôi ở trong Nam cháy nắng hồng
Con đò vĩ tuyến ngày xưa ấy
Giờ đã qua rồi kiếp long đong

Có phải qua rồi kiếp long đong?
Lòng người có phải đã xuôi dòng
Hận thù có phải đà trôi hết
Mẹ có mỗi chiều thôi cửa trông

Anh hãy về thăm ngày mưa giông
Ngoài sông trẻ ngụp bắt cua đồng
Nhĩ nhầu manh áo mài lem luốt
Che hết ấu thơ kín tuổi hồng

Có những người xưa tiễn đưa chồng
Khi vừa đôi chín thuở má hồng
Chiến chinh chia cách đời dâu bể
Hơn nữa đời người vẫn đợi mong

Đừng giảng tôi nghe những vô song
Cái chi vô địch với đại đồng
Hãy đem công bằng và no ấm
Cùng với yêu thương giống Lạc Hồng.
*SAUMIETVUON*
&Bài anh Dũng gửi tặng lại tôi:
TÔI-NÓ
Có người ví
Đất nước ta dài như cái đòn ngánh
Nặng trĩu Hồng Hà Cửu Long
Đời cũng bảo
Xa mặt cách lòng!
Tôi và nó
Mỗi thằng một xó
Ở tít hai đầu
Gần sáu mươi năm nào ai biết ai đâu
Mà bỗng chốc lại trở nên quen thuộc
Nó!
Xù xì, gày guộc, xạm đen
Chăm trái bưởi gốc dừa cho con đèn sách
Lo vợ ốm đau
Tôi sinh ra trước
Nó được sinh sau
Nào đã biết mặt nhau
Mà nghe nó gọi tiếng “Anh” thân thiết thế
Cái ngọt ngào của người miệt Miền Tây
Tôi !
Ở đây
Giữa lòng Hà Nội
Đời xoay tít cho tình bối rối
Ngột ngạt nắng hè
Tiếng người xe át cả tiếng ve
Cái gì cũng nặng nề bức bối
Chẳng vì con chắc cũng không sống nổi
Mắt trâng trâng nuốt ý nghĩ vào lòng
“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh”
Giật mình lặng ngắm bóng mình xiêu xiêu
Tôi!
Đi lính vào Nam đến ngày thống nhất
Nó!
Mặc áo vào, sang đánh bên Miên
Chiến tranh qua
Nhưng lòng tôi lòng nó cứ buồn phiền
Cứ nặng trĩu những nỗi niềm đất nước
Nó!
Cặm cụi xó vườn
Tôi!
Đăm chiêu góc Viện
Nào có mơ đâu ngai vàng vương miện
Cũng chẳng hòng phú quý cao sang
Tôi và Nó
Cả hai đứa chỉ mơ màng
Điều tốt đẹp
Cho con mình
Khi chết./.
NGUYỄN VINH DŨNG
(Cựu chiến binh Bắc Việt, hiện là bác sỉ chuyên khoa não bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội)

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

HÃY MỞ MẮT RA

 Mở mắt ra nào hãy mở ra
Miên trường mau tỉnh giấc nam kha
Trải non thế kỉ xương hoà máu
Mấy chục năm trường thịt xáo da
Đất nước da vàng dòng Lạc Việt
Non sông gấm vóc cội ông cha
Xin bừng tỉnh dậy anh em hỡi
Dựng lại  yêu thương dựng lại nhà
*SAUMIETVUON*